logobqn

BỆNH VIỆN ĐA KHOA

KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC QUẢNG NAM

ĐỊA CHỈ: KHU 7 THỊ TRẤN ÁI NGHĨA - ĐẠI LỘC - QUẢNG NAM - ĐIỆN THOẠI: 0235. 3747432 - FAX: 0235. 3747432

Tin mới nhất

Ngày 30 tháng 3, Sở y tế Thái Bình có ...
Môi trường y tế là một môi trường nguy ...
Trong không khí hân hoan chào mừng ...
Chiều 13/9, Công đoàn Cơ sở Bệnh viện ...

Video

Lượt truy cập

Hôm nay 17

Hôm qua 64

Tuần này 315

Tháng này 563

Tổng cộng 35554

Chẩn đoán và điều trị co thắt phế quản do gắng sức

Chẩn đoán và điều trị co thắt phế quản do gắng sức

Hen và co thắt phế quản do gắng sức ở vận động viên

Tóm tắt nghiên cứu

Một chế độ luyện tập lâu dài thì quan trọng để duy trì sức khỏe. Chế độ này được áp dụng cho những người bị hen cũng như những người không bị hen. Nhiều người thích các bài tập aerobic với cường độ cao bị co thắt phế quản do gắng sức (EIB), một bệnh lý phổ biến ở vận động viên chuyên nghiệp.

(Aerobic: vận động cơ bắp theo nhịp điệu, lặp đi lặp lại, nhip tim tăng dần ví dụ đi bộ, chạy bộ, đi xe đạp, khiêu vũ…; Anaerobic: vận động mạnh, cường độ cao, chủ yếu nhằm tăng tốc độ, bồi đắp cơ bắp thường ngắn giờ như chạy nước rút, đua xe đạp nước rút, nâng tạ nặng nhiều lần…)

Vì đó là triệu chứng đơn lẻ nên EIB không được dùng để chấn đoán hen, mặc dù EIB là một đặc điểm phổ biến của hen. EIB là sự hẹp đường thở thoáng qua sau gắng sức và hiện nay được xem xét để phân biệt với tăng phản ứng đường thở. Các đặc điểm của EIB và khuyến cáo điều trị hiện nay được trình bày trong bài báo viết bởi Boulet và O’Byrne. Cơ chế của EIB được cho rằng là do mất nước và đường hô hấp trên bị nóng lên trong khi tăng hoạt động hô hấp. Hít chlorine từ nước hồ bơi hay hít phải dị nguyên và ô nhiễm không khí môi trường xung quanh có thể gây co thắt phế quản tương tự như vậy.

Chẩn đoán EIB có hoặc không có hen phối hợp thì dựa vào sự hiện diện của triệu chứng điển hình và sự giới hạn luồng khí thay đổi. Đo phế dung kế hay lưu lượng đỉnh cả ngày giúp chẩn đoán hen. Hỗ trợ thêm có thể được thực hiện bằng việc chứng minh sự gia tăng chức năng phổi đáng kể thông qua đo thể tích khí thở ra tối đa (FEV1; tăng 12% và 200ml) sau khi dùng thuốc giãn phế quản hay sự giảm chức năng phổi tương ứng sau kích thích phế quản bằng methacholine. Đối với chẩn đoán EIB, Ủy ban Olympic khuyến cáo sử dụng test eucapnic voluntary hyperpnea.

Điều trị khuyến cáo ở bệnh nhân hen có EIB được trình bày chi tiết trong hướng dẫn của GINA (Global Initiative for Asthma). Đối với bệnh nhân bị EIB nhưng không có hen, điều trị khuyến cáo là không dùng thuốc bao gồm sử dụng mặt nạ khi tập luyện trong thời tiết lạnh—ví dụ đeo mặt nạ khi trượt tuyết. Khởi động làm ấm cơ thể trước khi tập luyện có thể hạn chế EIB trong hơn ½ trường hợp. Những người này nên tránh hoạt động trong điều kiện môi trường có nhiều dị nguyên, chất ô nhiễm hay những chất gây khởi phát bệnh tương tự.

Các nghiên cứu điều trị bằng thuốc cho bệnh nhân EIB là ít và chưa đầy đủ. Đối với EIB nhẹ, sử dụng thuốc giãn phế quản beta-adrenergic tác dụng ngắn có thể được dùng trong cấp cứu co thắt phế quản hoặc dùng 5-10 phút trước khi tập để phòng ngừa EIB (được thích dùng hơn). Tuy nhiên, nếu phải dùng thuốc giãn phế quản nhiều hơn 2 lần một tuần thì khuyến cáo là nên bắt đầu với liều thấp corticosteroid nhưng đều đặn. Điều trị thay thế là bổ sung leukotriene hay nếu cần thiết thì thêm cả steroid và leukotriene. Các loại thuốc khác như kháng histamine, liệu pháp miễn dịch, và acid béo omega-3 không cho thấy hiệu quả trong kiểm soát EIB

Quan điểm

Trong vài thập niên qua, sự quan trọng của tập thể dục đều đặn vì sức khỏe đã được thừa nhận và được khuyến khích cho mọi người, và các bài tập aerobic là một hoạt động tập luyện quan trọng. Tuy nhiên, tập thể dục sẽ gây ra co thắt phế quản ở một tỉ lệ lớn trong quần chúng. Vấn đề này càng xấu hơn ở những vận động viên chuyên nghiệp ước tính khoảng 70% những người bị EIB. Tuy nhiên, các vận động viên thường xem thường, phủ nhận hay thậm chí không biết về các triệu chứng EIB của họ.

Để cho phép những người bị EIB (đặc biệt vận động viên cao cấp) hoạt động và thi đấu, EIB phải được phát hiện và điều trị. Ngoài ra, có bằng chứng rằng không điều trị EIB có thể mang lại hậu quả xấu về lâu dài. Boulet và O’Byrne đề cập có thể là trong quá trình tập luyện cường độ cao, hiên tượng viêm kéo dài của đường thở có thể gây ra tái cấu trúc đường thở, suy miễn dịch và dễ bị nhiễm trùng, và có thể tiến triển thành hen. EIB gần như luôn được kiểm soát tốt.

Vận động viên thi đấu phải tuân thủ qui định không dùng doping. Tuy nhiên, ủy ban tổ chức nên hội ý về những giới hạn cụ thể. Tóm lại, những dược phẩm được cho phép là đối vận beta-2 dạng hít như albuterol, formoterol và salmeterol. Thuốc kháng cholinergic dạng hít, glucocorticoid dạng hít (không phải glucocorticoid dạng uống), kháng leukotriene, cromolyn, nedocromil và omalizumad là được cho phép; tất cả các thuốc khác bị cấm. Những hạn chế khác (như là liều) có thể áp dụng.

                                                                         BS Đinh Thanh Vinh (dịch)

Medscape 27/4/2015 Diagnosing andManaging Exercise Induced Bronchoconstriction

BV đa khoa khu vực miền núi phía Bắc Quảng Nam

Địa chỉ: Khu 7 - Thị Trấn Ái Nghĩa - Đại Lộc - Quảng Nam

Điện thoại: 0235.3 747.432 - 0235.3 865.378

Fax: 0235.3 747.432

Email: thstomuoi@gmail.com

ĐẶT LỊCH KHÁM

Họ tên(*)
Invalid Input

Email(*)
Invalid Input

Điện thoại(*)
Invalid Input

Nội dung(*)
Invalid Input

Captcha(*)
Captcha
Invalid Input

Search