logobqn

BỆNH VIỆN ĐA KHOA

KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC QUẢNG NAM

ĐỊA CHỈ: KHU 5 THỊ TRẤN ÁI NGHĨA - ĐẠI LỘC - QUẢNG NAM - ĐIỆN THOẠI: 0235.374732

Tin mới nhất

Trong không khí hân hoan chào mừng ...
Chiều 13/9, Công đoàn Cơ sở Bệnh viện ...
Bệnh Sốt xuất huyết là bệnh truyền ...
 Ngày 26.6, CĐ ngành y tế tỉnh tổ ...

Video

Lượt truy cập

Hôm nay 4

Hôm qua 23

Tuần này 48

Tháng này 341

Tổng cộng 1139

BỆNH UỐN VÁN ĐÂU ĐÓ VẪN CÒN LÀ NỔI LO

Bệnh uốn ván là một bệnh nhiễm trùng nhiễm độc do Clostridium tetani gây nên. Vi trùng tiết ra độc tố tetanospamin ảnh hưởng đến hệ thần kinh gây ra biểu hiện co cứng cơ và co giật toàn thân.

uv1uv2

Tác nhân gây bệnh: Vi trùng uốn ván Clostridium tetani là trực khuẩn gram dương sinh ngoại độc tố, phát triển tốt trong môi trường yếm khí, có thể tạo thành bào tử có sức đề kháng cao, chịu được sức nóng đun sôi 1-3 giờ, tồn tại nhiều giờ trong dung dịch formalin, phenol, có thể sống nhiều năm ngoài môi trường.

Đường xâm nhập của vi trùng:

+ Vết thương da niêm (nhất là vết thương bẩn, dập nát nhiều), vết bỏng, vết tiêm chích không đảm bảo vô trùng, các vết mổ kém vô trùng.

+ Các tổn thương da kéo dài: chàm, loét da hoại tử, ung thư da...

+ Phá thai và đỡ đẻ không vô trùng.

+ Không tìm thấy ngõ vào: (10%).

Cảm thụ bệnh: mọi người đều có thể mắc bệnh, thường gặp nam nhiều hơn nữ.

Sau khi mắc bệnh không tạo được miễn dịch bền vững.

Lâm sàng

Ủ bệnh (từ khi có vết thương đến khi cứng hàm): trung bình 7-14 ngày, ngắn nhất là 48-72 giờ.

Khởi phát (từ khi cứng hàm đến khi có cơn co giật đầu tiên): trung bình 2-5 ngày.

Toàn phát (xuất hiện đầy đủ triệu chứng lâm sàng của bệnh): 10- 14 ngày.

Phục hồi: trung bình 3- 4 tuần.

Uốn ván toàn thân: Là thể thường gặp nhất

Khởi phát bằng mỏi quai hàm, nhai khó, nuốt khó, nuốt vướng, uống sặc, dần dần hàm cứng (không há lớn được, cơ nhai co cứng nổi rõ khi nhai. Dùng cây đè lưỡi cố mở rộng hàm, bệnh nhân càng khít hàm chặt lại, không tìm thấy điểm đau rõ rệt vùng quanh hàm, mọi cố gắng nhai nuốt thức ăn mềm đều làm cơ mặt co lại.)

Giai đoạn toàn phát xuất hiện co cứng cơ: bắt đầu từ cơ nhai, sau đến cơ mặt (tạo nét mặt cười nhăn) tuần tự đến cơ gáy, cơ lưng, cơ bụng, cơ chi dưới và cuối cùng mới đến cơ chi trên. Hiếm khi co cứng cơ liên sườn.

Tùy theo nhóm cơ co cứng chiếm ưu thế, bệnh nhân có một trong các tư thế sau.

+ Cong ưỡn người ra sau: co cứng cơ phía sau cột sống (opisthotonos).

+ Thẳng cứng cả người như tấm ván: co cứng cơ trước và sau cột sống (orthotonos).

+ Cong người sang một bên: co cứng cơ một bên cột sống (pleurothotonos).

+ Gập người ra phía trước: co cứng cơ phía trước cột sống (embrosthotonos).

Co giật và co thắt: co giật cứng toàn thân tự nhiên hay do kích động bởi va chạm, ánh sáng chói, tiếng ồn. Nguy hiểm nhất là co thắt hầu họng gây khó nuốt, sặc đàm, và co thắt thanh quản đưa đến tím tái, ngưng thở.

Rối loạn cơ năng: khó nuốt, khó nói, khó thở do co thắt hầu họng, tăng tiết đàm nhớt tắc nghẽn hô hấp, đại tiểu tiện khó khăn.

Tổng trạng: tỉnh táo, không sốt cao lúc mới phát bệnh và 48 giờ đầu.

Nếu hệ thần kinh thực vật bị tổn thương sẽ có biểu hiện: sốt cao, mạch nhanh >120-140 lần phút, huyết áp giao động, thở nhanh, vã mồ hôi nhiều. Khi co giật nhiều và co thắt thanh quản liên tục, bệnh nhân có thể lơ mơ, hôn mê do thiếu oxy não.

Uốn ván cục bộ

Co cứng cơ khu trú ở vị trí tương ứng với nơi xâm nhập của vi trùng uốn ván. Bệnh thường nhẹ, kéo dài, diễn tiến tự khỏi.

Bệnh hay gặp ở người đã có miễn dịch một phần với tetanospamin (đã được tiêm phòng SAT khi bị thương nhưng không xử trí vết thương đúng, và không tiêm ngừa VAT). Co cứng cơ có thể lan sang chi đối diện, hay diễn tiến thành uốn ván toàn thân khi lượng độc tố uốn ván đạt đến mức đủ tại hệ thần kinh trung ương.

Uốn ván thể đầu: cũng là uốn ván cục bộ.

Vết thương ở khu vực đầu mặt cổ, thời gian nung bệnh ngắn hơn. Có hai loại biểu hiện:

Thể không liệt: khởi đầu với triệu chứng co thắt hầu họng làm bệnh nhân khó nuốt, uống sặc.

Thể liệt: thường gặp hơn thể trên, liệt mặt ngoại biên, liệt dây thần kinh III, IV, VI...

Uốn ván rốn

Thời gian ủ bệnh 3- 5 ngày, tối đa 28 ngày, rốn nhiễm trùng ướt và rụng sớm vào ngày thứ

Biểu hiện: trẻ bỏ bú, mắt nhắm, khóc không ra tiếng rồi không khóc, bụng co cứng, bàn tay nắm chặt, chân co cứng, trẻ thường sốt cao, co giật nhiều, co thắt tím tái. Tỷ lệ tử vong 70-80% do suy hô hấp, bội nhiễm, suy dinh dưỡng.

Cận lâm sàng

Phân lập vi trùng và xác định độc tố. Bệnh phẩm là dịch vết thương nghi ngờ là ngõ vào, cấy trong môi trường yếm khí. Tỷ lệ cấy dương tính 30- 40%.

Thử nghiệm sinh vật: lấy huyết thanh bệnh nhân tiêm cho chuột thí nghiệm, nếu có độc tố uốn ván thì sẽ gây ra ở chuột thí nghiệm bệnh uốn ván điển hình.

Đo nồng độ kháng thể trong huyết thanh

+ Phương pháp in vivo (Phản ứng trung hòa kháng nguyên kháng thể): độ nhạy và độ đặc hiệu cao, nhưng đắt tiền và tốn thời gian.

+ Phương pháp in vitro: Có 3 loại phản ứng: ngưng kết hồng cầu thụ động, Elisa, điện di miễn dịch tia. Những phản ứng này nhanh, nhạy, rẻ tiền, đơn giản nhưng ít đặc hiệu hơn.

Biến chứng:

- Hô hấp: Suy hô hấp (do co giật, ứ đọng đàm nhớt, bội nhiễm, xẹp phổi.), có thể ngưng thở đột ngột

- Tim mạch: có thể nhịp tim nhanh, huyết áp tụt, ngưng tim đột ngột.

- Rối loạn thần kinh thực vật: xuất hiện tuần 1- 2 của bệnh. Với các triệu chứng: sốt cao, vã mồ hôi, mạch nhanh, huyết áp tăng.

- Bội nhiễm: nhiễm trùng tại chỗ và/hoặc toàn thân.

- Xuất huyết: xuất huyết tiêu hóa (thường do stress), xuất huyết trong các cơ do co giật mạnh.

 

Lúc 5 giờ 35 phút ngày 03 tháng 9 năm 2016, bệnh viện đa khoa khu vực miền núi phía bắc Quảng Nam tiếp nhận bệnh nhân Nguyễn Thị X 78 tuổi, ở tại khu 2, thị trấn Aí Nghĩa tỉnh Quảng Nam, vào viện với lý do nói khó, nuốt đau, sốt và cứng hàm. Theo lời khai từ người nhà trước đó bệnh nhân hay xỉa răng sau khi ăn bằng tăm

Qua thăm khám lâm sàng ghi nhận

  • Sốt 380C, mạch 97 lần/phút, huyết áp 120/70 mmHg;
  • Cứng hàm, nuốt khó, co cứng vùng thắt lưng, co cứng cơ vùng bụng và ưởn người khi thăm khám;

Bệnh được chẩn đoán và điều trị bệnh uốn ván với thở O2, dịch truyền, thuốc tinidazol, ceftazidim, SAT;

Diễn biến lâm sàng các ngày sau bệnh nhân hôn mê, suy hô hấp, co giật, co cứng, tiến hành thở máy, đông miên...

  • 21 giờ 45 phút ngày 07 tháng 9 bệnh nhân ngừng tim đột ngột, tiến hành hồi sức tim phổi sau đó có tim và duy trì điều trị thở máy, kháng sinh
  • Ngày 12 tháng 9 tiến hành khia khí quản, sau đó tiếp tục điều trị như phác đồ trên
  • Ngày 17 tháng 9 cai máy thở, ngày 10 tháng 10 rút canyl khai khí quản, tự thở O2 qua mũi hầu

Hiện tại bệnh nhân tỉnh, không sốt tự thở, không co giật...ăn được

Đây là ca bệnh uốn ván điển hình, thể tối cấp với nhiều biến chứng trong đó có ngừng tim đột ngột và đã được các kíp trực hồi sức cứu chữa thành công một cách ngoạn mục.

Qua trường hợp bệnh nhân này chúng tôi cho rằng

  • Nguyên nhân chính là từ việc xỉa răng, đây là thói quen của mọi người dân, có điều tăm xỉa răng như thế nào để đảm bảo vệ sinh
  • Đây là bài học cần phải được khắc phục càng sớm càng tốt nhất là người dân vùng quê khi mà sự ý thức chưa cao

 

Phòng ngừa

- Tiêm phòng uốn ván:

+ Trẻ sơ sinh tiêm ngừa theo lịch tiêm chủng mở rộng: gây miễn dịch cơ bản bằng 3 mũi VAT: 0- 1- 6 tháng (bắt đầu lúc trẻ được 2 tháng tuổi), mũi thứ 4 sau 5 năm, mũi thứ 5 sau 10 năm.

+ Đối với phụ nữ mang thai: cần tiêm 2 mũi VAT sao cho nồng độ kháng thể bảo vệ đạt mức lư tưởng, tốt nhất là khoảng cách giữa mũi 1 và 2 là 4 tuần và mũi 2 đến lúc sinh là 1-2 tháng.

- Phòng ngừa sau khi bị vết thương:

Cắt lọc vết thương, lấy hết dị vật, rữa oxy già và thuốc sát trùng, không khâu kín, dùng kháng sinh. Tiêm phòng uốn ván:

+ Nếu được tiêm phòng vacxin đầy đủ và còn trong thời gian miễn dịch cần tiêm VAT.

+ Nếu chưa tiêm phòng, tiêm phòng không đầy đủ hay quá thời gian miễn dịch cần tiêm SAT 1500UI- 3000UI (vết thương dơ, dập nát nhiều) đồng thời phải tiêm kèm VAT 3 mũi.

- Phòng ngừa uốn ván rốn: tiêm phòng uốn ván cho bà mẹ trong thời gian mang thai, quản lý thai nghén, tránh đẻ rơi, đỡ đẻ vô trùng.

Uốn ván là bệnh có thể dự phòng và điều trị được nếu người dân biết tuân thủ các biện pháp phòng ngừa. Mong rằng các cấp chính quyền cần tuyên truyền mạnh mẽ hơn nữa về bệnh để tránh được những trường hợp để lại di chứng nặng nề thậm chí là tử vong một con người./.

Thạc sĩ, bác sĩ Nguyễn Đình Hoàng

BV đa khoa khu vực miền núi phía Bắc Quảng Nam

Địa chỉ: Khu 5 - Thị Trấn Ái Nghĩa - Đại Lộc - Quảng Nam

Điện thoại: 0235.3 747.432 - 0235.3 865.378

Fax: 0235.3 747.432

Email: thstomuoi@gmail.com

ĐẶT LỊCH KHÁM

Họ tên
Invalid Input

Email
Invalid Input

Điện thoại
Invalid Input

Nội dung
Invalid Input

Captcha(*)
Captcha
Invalid Input

Search